Luật Thi hành án dân sự năm 2025 và Nghị định số 151/2026/NĐ-CP đánh dấu bước thay đổi quan trọng trong tổ chức và hoạt động của Văn phòng Thi hành án dân sự, Thừa hành viên. Không chỉ thay đổi về tên gọi, các quy định mới còn mở rộng phạm vi tổ chức thi hành án, tăng thẩm quyền của Trưởng Văn phòng và bổ sung những quyền hạn quan trọng cho Thừa hành viên.
1. Từ Văn phòng Thừa phát lại đến Văn phòng Thi hành án dân sự
Ngày 05/12/2025, Quốc hội thông qua Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Để triển khai thi hành Luật, ngày 13/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 151/2026/NĐ-CP quy định về tổ chức và hoạt động của Văn phòng Thi hành án dân sự, Thừa hành viên, thay thế Nghị định số 08/2020/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại.
Theo quy định mới, Văn phòng Thừa phát lại được đổi tên thành Văn phòng Thi hành án dân sự; chức danh Thừa phát lại được đổi tên thành Thừa hành viên.
Tuy nhiên, đây không đơn thuần là sự thay đổi về tên gọi mà còn gắn liền với việc hoàn thiện địa vị pháp lý, nhiệm vụ và quyền hạn của các chủ thể tham gia hoạt động thi hành án dân sự. Các quy định mới vừa kế thừa những hoạt động đã được pháp luật ghi nhận, vừa bổ sung cơ chế pháp lý nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành bản án, quyết định.
2. Mở rộng phạm vi bản án, quyết định được tổ chức thi hành
Trước đây, theo Điều 51 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, phạm vi tổ chức thi hành án của Văn phòng Thừa phát lại được xác định trong những giới hạn nhất định.
Theo khoản 1 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự năm 2025, Văn phòng Thi hành án dân sự được tổ chức thi hành án theo yêu cầu của đương sự đối với các bản án, quyết định thuộc phạm vi quy định tại khoản 1 Điều 32 của Luật, trên địa bàn tỉnh, thành phố nơi Văn phòng đặt trụ sở, trừ các trường hợp pháp luật loại trừ.
Ngoài những bản án, quyết định của Tòa án trong nước thuộc phạm vi được tổ chức thi hành, các quy định mới còn tạo cơ sở để Văn phòng tiếp nhận, tổ chức thi hành những loại bản án, quyết định khác khi đáp ứng đầy đủ điều kiện pháp luật, đáng chú ý gồm:
- Quyết định của Tòa án nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố.
- Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và quyết định công nhận kết quả hòa giải thành của Tòa án thuộc phạm vi luật định.
- Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài và phán quyết của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam có thẩm quyền công nhận và cho thi hành.
- Phán quyết trọng tài, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài thuộc phạm vi luật định.
- Các quyết định về xử lý vụ việc cạnh tranh và giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh thuộc phạm vi pháp luật quy định.
- Quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng bồi thường thiệt hại của cơ quan có thẩm quyền.
- Quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án nhân dân khu vực thuộc phạm vi luật định.
Giới hạn thẩm quyền cần lưu ý: Văn phòng không được tổ chức thi hành tất cả các loại bản án, quyết định. Khoản 1 Điều 31 loại trừ trường hợp quy định tại điểm k khoản 1 Điều 32 và khoản 2 Điều 33 của Luật Thi hành án dân sự năm 2025.
Đồng thời, việc tổ chức thi hành án phải tuân thủ quy định về địa bàn, chủ thể yêu cầu, trình tự, thủ tục và hợp đồng dịch vụ.
Ý nghĩa thực tiễn: Việc mở rộng phạm vi tổ chức thi hành án giúp người dân, doanh nghiệp có thêm lựa chọn hợp pháp khi yêu cầu thi hành bản án, quyết định, đồng thời tạo điều kiện phát huy vai trò của các tổ chức hành nghề Thừa hành viên.
3. Trưởng Văn phòng Thi hành án dân sự được tăng thẩm quyền
Một trong những thay đổi đáng chú ý nhất của Luật Thi hành án dân sự năm 2025 là việc bổ sung thẩm quyền cho Trưởng Văn phòng Thi hành án dân sự.
3.1. Được trực tiếp ban hành quyết định thi hành án
Theo quy định trước đây, Trưởng Văn phòng Thừa phát lại không trực tiếp ban hành quyết định thi hành án mà phải đề nghị người đứng đầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ban hành quyết định.
Theo khoản 4 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự năm 2025, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ký hợp đồng dịch vụ, Trưởng Văn phòng Thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án.
Đây là sự thay đổi quan trọng về thẩm quyền và trách nhiệm trong quá trình tổ chức thi hành án. Quy định mới góp phần giảm bớt khâu trung gian, tạo điều kiện để Văn phòng chủ động hơn trong việc tiếp nhận và giải quyết yêu cầu thi hành án.
3.2. Được đề nghị sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định
Trong thực tiễn, có những bản án, quyết định phát sinh khó khăn khi thi hành do sai sót về số liệu, nội dung chưa rõ hoặc có điểm cần được giải thích.
Theo Điều 28 Luật Thi hành án dân sự năm 2025, Trưởng Văn phòng được thực hiện các quyền hạn liên quan theo quy định tại khoản 2 Điều 22 của Luật, trong đó có quyền đề nghị cơ quan đã ban hành bản án, quyết định sửa chữa, bổ sung, giải thích nội dung cần thiết để tổ chức thi hành.
Quyền hạn này tạo điều kiện để Văn phòng chủ động xử lý các vướng mắc pháp lý phát sinh, thay vì chỉ phụ thuộc vào việc chuyển kiến nghị qua cơ quan thi hành án dân sự. Tuy nhiên, việc sửa chữa, bổ sung hoặc giải thích bản án, quyết định vẫn thuộc thẩm quyền của cơ quan đã ban hành hoặc cơ quan có thẩm quyền theo quy định pháp luật.
3.3. Được kiến nghị xem xét bản án, quyết định theo thủ tục đặc biệt
Khi phát hiện có căn cứ pháp luật, Trưởng Văn phòng có quyền kiến nghị người có thẩm quyền xem xét việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hoặc thực hiện các kiến nghị khác theo quy định.
Quyền kiến nghị này không đồng nghĩa với quyền tự mình kháng nghị hoặc thay đổi nội dung bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
3.4. Được giải quyết khiếu nại lần đầu
Luật Thi hành án dân sự năm 2025 bổ sung thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Trưởng Văn phòng đối với quyết định, hành vi thi hành án dân sự thuộc phạm vi trách nhiệm của mình và Thừa hành viên thuộc Văn phòng.
Việc giải quyết khiếu nại phải tuân thủ đúng thẩm quyền, thời hạn, trình tự và thủ tục theo quy định của Luật. Quy định này gắn trách nhiệm giải trình và trách nhiệm pháp lý của người đứng đầu Văn phòng với quá trình tổ chức thi hành án, đồng thời bảo đảm quyền khiếu nại của đương sự.
4. Bổ sung quyền hạn quan trọng cho Thừa hành viên
4.1. Quyền yêu cầu cung cấp thông tin để xác minh điều kiện thi hành án
Theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2025, Thừa hành viên có quyền xác minh tài sản, điều kiện thi hành án; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu nhằm xác minh địa chỉ, tài sản và điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.
Việc yêu cầu cung cấp thông tin phải được thực hiện đúng trình tự, phạm vi và điều kiện luật định. Quy định này góp phần tăng khả năng tiếp cận thông tin phục vụ tổ chức thi hành án, đồng thời đặt ra yêu cầu bảo đảm tính hợp pháp và bảo mật thông tin thu thập được.
4.2. Được đề nghị thực hiện một số biện pháp bảo đảm thi hành án
Đây là một trong những điểm mới có ý nghĩa thực tiễn nổi bật.
Theo điểm đ khoản 2 Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2025, khi tổ chức thi hành án, Thừa hành viên được đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện:
- Phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ.
- Tạm ngừng giao dịch.
- Tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản.
- Tạm dừng việc thay đổi hiện trạng tài sản.
Trước đây, quyền hạn của Thừa phát lại trong việc tổ chức thi hành án còn hạn chế khi phát sinh nhu cầu áp dụng các biện pháp bảo đảm hoặc cưỡng chế. Quy định mới tạo cơ sở để Thừa hành viên chủ động đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phối hợp thực hiện những biện pháp cần thiết, nhằm hạn chế nguy cơ tẩu tán, chuyển dịch hoặc thay đổi hiện trạng tài sản.
Cần đặc biệt lưu ý rằng Thừa hành viên có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện các biện pháp nêu trên, không đồng nghĩa với việc Thừa hành viên được tự mình ban hành mọi quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm hoặc trực tiếp cưỡng chế thi hành án.
4.3. Được kiến nghị xử lý hành vi vi phạm trong thi hành án
Thừa hành viên còn được kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm pháp luật phát sinh trong quá trình thi hành án dân sự. Quy định này góp phần tăng cường trách nhiệm tuân thủ pháp luật của các chủ thể có liên quan và hỗ trợ quá trình tổ chức thi hành án đúng quy định.
5. Cơ chế phối hợp và chuyển hồ sơ thi hành án
Việc mở rộng quyền hạn không làm mất đi vai trò của cơ quan thi hành án dân sự trong những trường hợp thuộc thẩm quyền của cơ quan này.
Điều 31 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 quy định cơ chế phối hợp giữa Văn phòng Thi hành án dân sự với cơ quan thi hành án dân sự, đồng thời quy định các trường hợp chấm dứt việc thi hành án tại Văn phòng.
Đáng chú ý, khi người yêu cầu có văn bản đề nghị chấm dứt việc thi hành án tại Văn phòng và chuyển sang cơ quan thi hành án dân sự để áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế, việc chuyển giao hồ sơ được thực hiện theo trình tự, thời hạn luật định.
Như vậy, việc mở rộng quyền hạn của Văn phòng và Thừa hành viên được đặt trong cơ chế phân định thẩm quyền, phối hợp và kiểm soát hoạt động thi hành án.
6. Ý nghĩa của những thay đổi đối với người dân và doanh nghiệp
Những quy định mới mang lại nhiều tác động tích cực đối với hoạt động thi hành án dân sự.
Thứ nhất, mở rộng lựa chọn cho người yêu cầu thi hành án. Người dân và doanh nghiệp có thể xem xét lựa chọn Văn phòng Thi hành án dân sự đối với các vụ việc thuộc phạm vi pháp luật cho phép.
Thứ hai, tăng tính chủ động trong quá trình tổ chức thi hành án. Việc Trưởng Văn phòng trực tiếp ra quyết định thi hành án giúp giảm bớt thủ tục trung gian theo cơ chế trước đây.
Thứ ba, tăng cường khả năng xác minh và bảo vệ tài sản thi hành án. Thẩm quyền yêu cầu cung cấp thông tin và đề nghị thực hiện các biện pháp bảo đảm tạo thêm công cụ pháp lý để hạn chế nguy cơ tẩu tán tài sản.
Thứ tư, nâng cao trách nhiệm của tổ chức hành nghề. Việc bổ sung thẩm quyền giải quyết khiếu nại và xác định rõ trách nhiệm của Trưởng Văn phòng, Thừa hành viên góp phần tăng tính minh bạch và trách nhiệm trong hoạt động nghề nghiệp.
7. Kết luận
Luật Thi hành án dân sự năm 2025 và Nghị định số 151/2026/NĐ-CP đã tạo ra những thay đổi đáng kể trong địa vị pháp lý, nhiệm vụ và quyền hạn của Văn phòng Thi hành án dân sự và Thừa hành viên. Từ việc mở rộng phạm vi tổ chức thi hành án, trao quyền ban hành quyết định thi hành án cho Trưởng Văn phòng đến bổ sung quyền đề nghị thực hiện một số biện pháp bảo đảm cho Thừa hành viên, các quy định mới thể hiện định hướng hoàn thiện cơ chế tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, việc thực hiện những quyền hạn này phải luôn tuân thủ các điều kiện, giới hạn thẩm quyền và trình tự, thủ tục pháp luật quy định.
Căn cứ pháp lý:
- Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15 ngày 05/12/2025.
- Nghị định số 151/2026/NĐ-CP ngày 13/5/2026 của Chính phủ.
- Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08/01/2020 của Chính phủ (văn bản áp dụng trước đây, đã được thay thế).
VĂN PHÒNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ HÀ ĐÔNG
Văn phòng tiếp nhận, tư vấn và thực hiện các công việc thuộc phạm vi hoạt động theo quy định pháp luật, bao gồm:
- Tổ chức thi hành bản án, quyết định thuộc thẩm quyền.
- Xác minh điều kiện thi hành án.
- Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu.
- Lập vi bằng theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Chúng tôi hướng tới việc cung cấp dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp, minh bạch, đúng quy định, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng.

